image Truyền thống - lịch sử Quận Gò Vấp
THẮNG GIẶC LÀ NHỜ DÂN THƯƠNG
Thứ ba, Ngày 30/01/2018, 06:40 SA Cỡ chữ Màu chữ image

(WEBGOVAP) - Thiếu tướng Vũ Văn Thược - nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4 hiện đã 90 tuổi. Song, ký ức Mùa Xuân 1968 - khi ông 40 tuổi mang cấp hàm Thiếu tá, chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực 88 - đơn vị tham gia chiến dịch Tổng tấn công năm ấy, vẫn khiến ông như trẻ lại. Giọng nói rộn ràng, đôn hậu, ông kể:

Thiếu tướng Vũ Văn Thược nói chuyện truyền thống
trong buổi họp mặt mừng Đảng - mừng Xuân tại Quận ủy Xuân năm 2015

Tháng 12 năm 1967 - những ngày cuối cùng của năm Đinh Mùi, đơn vị ông nhận mệnh lệnh tấn công giải phóng Sài Gòn chỉ trước khi vào trận có hai ngày do bảo mật. Nhận được điện báo có nội dung ngắn gọn nhưng biết đây là nhiệm vụ quan trọng của Trung đoàn, ông đã lập tức bàn bạc trong Ban Chỉ huy tiến hành đồng thời các nhiệm vụ vừa bổ sung vũ khí trang bị, vừa hành quân đảm bảo đúng mệnh lệnh. “Chúng tôi làm việc bằng mọi khả năng để kịp đưa đơn vị đến địa điểm tập kết đúng thời gian quy định”.

Đêm 29, rạng 30 Tết Mậu Thân, từ Dầu Tiếng, bộ đội Trung đoàn bôn tập về đến Bến Cỏ - khu vực Bàu Rô (phía Bắc của Bến Súc) nơi tiếp giáp Chủ Chi - Thủ Dầu Một - Hóc Môn chỉ trong vòng 1 đêm, chính xác là bốn tiếng đồng hồ. Trên đường vào chiến dịch, đơn vị ông còn được gặp đồng chí Lê Đức Anh - Tư lệnh chỉ huy tiền phương tại Vườn Thơm (Lái Thiêu) động viên thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ trước giờ tấn công. Đến căn cứ Bến Súc, ông được đồng chí Trần Đình Xu - Tư lệnh Phân khu 1 giao nhiệm vụ tổ chức đơn vị đảm bảo tuyến hành lang của phân khu từ Củ Chi  vào Bà Điểm (Hóc Môn). Trung đoàn mang mật danh Đoàn  Trà Vinh. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, ông tổ chức một Ban Chỉ huy nhẹ và một Tiểu đoàn chiến đấu (Tiểu đoàn 9) với quân số 500 cán bộ, chiến sĩ do chính ông chỉ huy thọc sâu xuống Bà Điểm, tiếp đó là 2 Tiểu đoàn do đồng chí Ty - Trung đoàn phó và đồng chí Đà - Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn làm chỉ huy. Khi đơn vị trú tại Bà Điểm, địch phát hiện và cho máy bay đánh phá, rồi đổ quân càn quét. Tiểu đoàn 9 do ông chỉ huy liên tục đánh địch trong 2 ngày tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy 3 xe thiết giáp, nhưng bộ đội ta cũng hy sinh khá nhiều. Hai tiểu đoàn còn lại là Tiểu đoàn 7 và 8 tổ chức tiến công diệt Đồn Ông cả và đánh địch phản kích tại Phú Hòa Đông. Tuy ít khó khăn hơn bộ phận thọc sâu do ông chỉ huy nhưng cả 2 Tiểu đoàn cũng bị tổn thất lớn.

Kết thúc đợt 1 tổng công kích, 2 Tiểu đoàn này được lệnh rút về vị trí tập kết củng cố. Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn tiếp tục trụ lại chiến đấu tại Lõm căn cứ Hóc Môn - Đức Hòa. Lúc này quân Ngụy tập trung lực lượng đánh ra vùng ven đô và nhiệm vụ của Trung đoàn là phải đánh địch, giữ vững hành lang để đại quân tiếp tục tiến công vào Sài Gòn. Phát hiện lực lượng của Tiểu đoàn 9, quân Mỹ tập trung 3 tiểu đoàn bộ binh có sự chi viện của máy bay, xe tăng đánh vào đội hình. Tiểu đoàn 9 kiên cường chiến đấu đến chiều tối và trong tình thế khó khăn đã rút về Đức Hòa trong lúc địch vẫn bám theo. Tranh thủ trời đêm tối, bất ngờ đơn vị lặng lẽ quay trở lại 18 Thôn Vườn Trầu dấu quân trong nhà dân, bắt liên lạc được với chị Năm Rỗ - cơ sở cách mạng tại Bà Điểm, được chị vận động bà con trong Ấp giúp lương thực, thực phẩm và bông băng, thuốc men cứu chữa thương binh. Thấy bộ đội về, bà con trong Ấp cũng về theo đông hơn, giúp bộ đội bám trụ chiến đấu…

Kết thúc các đợt tổng công kích vào Sài Gòn năm ấy, Trung đoàn tổng kết những ngày bám trụ tại vùng ven đã chiến đấu hàng chục trận oanh liệt, tiêu diệt hàng nghìn tên địch, bắn cháy hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp của chúng… nhưng đơn vị cũng thương vong hơn 80% quân số, trong đó có có sự hy sinh dũng cảm của các đồng chí Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 và Tham mưu phó, Phó chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn. Ban chỉ huy Trung đoàn chỉ còn lại ông, đồng chí Hiền Kính - Phó Ban Tác chiến Trung đoàn, đồng chí Xước - Trợ lý hậu cần cùng hơn 100 cán bộ, chiến sĩ. Cuối tháng 5.1968, trong tình thế ngặt nghèo, toàn Trung đoàn chỉ còn đủ quân số một Đại đội, Trung đoàn đã được lệnh rút lui củng cố. Đứng trước sự cay cú đánh trả ác liệt của kẻ thù, việc rút lui lực lượng ra ngoài cũng vô cùng khó khăn. Để nghi binh lừa bọn thám báo và bọn phượng hoàng của Mỹ - ngụy, Trung đoàn một mặt vẫn tổ chức tiến công, một mặt liên hệ với cơ sở của ta tại Vĩnh Lộc, huy động Nhân dân trong Xã nấu 1.200 suất cơm nắm gánh ra để ngoài đồng khiến kẻ địch tưởng Trung đoàn còn đông quân số, ngán ngại không dám truy kích. Đến đêm lập tức đơn vị tranh thủ vượt đường 10, đường 8 và quốc lộ 1, băng đồng vượt sông Sài Gòn về căn cứ Dầu Tiếng an toàn. Sau đó, đơn vị lại tiếp tục củng cố lực lượng theo lệnh của Tư lệnh Trần Văn Trà: “Phải nỗ lực khẩn trương tổ chức lại sức chiến đấu, sau một tháng tiếp tục thực hiện tổng tiến công đợt 3”…

Trải qua 3 đợt tổng công kích năm 1968, toàn Trung đoàn đã dũng cảm chiến đấu đánh và tiêu hao nhiều sinh lực địch, với những trận đánh nổi tiếng làm nức lòng quân và dân Nam bộ, được Bộ chỉ huy Miền biểu dương khen thưởng, như trận phục kích đánh giao thông tại phía Nam cầu Đá Hàng - một trong những chiến công xuất sắc nhất của Trung đoàn 88. Từ 12 giờ trưa cho đến 17 giờ chiều tối cùng ngày, Trung đoàn đã tiêu diệt hơn 100 xe vận tải và xe tăng, thiết giáp của Mỹ dưới làn bom của máy bay rải thảm hơi cay; như trận chống càn tại Củ Chi lên hướng Tây Ninh đã tiêu diệt 96 xe cơ giới, bắn rơi 2 máy bay trực thăng của My; cùng nhiều trận đánh tại Dương Minh Châu - Dầu Tiếng tiêu diệt hàng trăm tên địch và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ… Những trận đánh của Trung đoàn 88 trong Tổng tấn công Mậu Thân 1968 thể hiện ý chí chiến đấu ngoan cường và trình độ tác chiến giỏi của cán bộ, chiến sĩ ta trong nhiều địa hình, từ đồng bằng trống trải cho đến đồng bưng đầm lầy, từ cả ban ngày lẫn trong đêm…

Trong gian khổ, ác liệt của các trận đánh Xuân Mậu Thân 1968, hình ảnh mà ông cảm động khắc sâu trong tâm khảm là tình cảm yêu thương bộ đội của đồng bào ta nói chung, trong đó có đồng bào Gò Vấp - Hóc Môn trong mặt trận Gò Môn. Các đồng chí cán bộ cơ sở và bà con ta luôn sát cánh cùng đơn vị, tổ chức rất tốt hệ thống giao liên giữa bí mật và công khai trong lòng địch để giúp chăm sóc, vận chuyển thương binh, tử sĩ, cũng như cung cấp thuốc men, lương thực... cho đơn vị một cách chu đáo, an toàn, từ xã này sang xã kia trong đạn pháo dày đặc. Những lúc pháo địch dội lửa, có cả hình ảnh các má, các chị ấn bộ đội xuống hầm, dùng mạng sống che chắn cửa hầm quan sát, bảo vệ... Ban ngày, một số bộ đội cải trang dân sự để trinh sát, có cặp vợ chồng trẻ đi xe honda lướt nhanh tới áp sát nói: “Chúng tôi biết các anh là quân giải phóng, bất ngờ gặp mà chúng tôi không mang theo gì, chỉ có tép thuốc lá Rubi biếu các anh coi như tấm lòng ngưỡng mộ!”, rồi vọt xe đi. Khi đơn vị trụ một ngày ở chợ Bà Điểm, dân còn mời bộ đội ăn đám giỗ. Các chiến sĩ quê miền Bắc ở đơn vị ông ăn trái khổ qua không quen vị đắng, được một trận cười thật vui... Đến tối lại lao vào đánh giặc trong sự che chở của dân.

Thiếu tướng Vũ Văn Thược trong một lần gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Tưởng chừng chiến tranh đan xen với đời thường, có mất mát hy sinh nhưng tấm lòng quân dân vẫn phơi phới khí thế cách mạng. Cứ thấy bộ đội đến là dân bảo nhau giao nhà, giao vườn, giao cả gà, heo cho hết bộ đội. Một bà má có con trai là đại úy phi công ngụy, vẫn lén xây hầm bí mật cho bộ đội trú ẩn. Gặp bộ đội là dân góp tiền tặng cho. Thấy đồng bào thương bộ đội cũng mừng, nhưng do kỷ luật quân đội “không lấy cái kim, sợi chỉ của Nhân dân”, nên bộ đội ta chấp hành nghiêm, chỉ nhận qua tiếp tế của tổ chức giao liên và hậu cần tiền phương theo yêu cầu của đơn vị. Sự giúp đỡ của người dân vùng giáp ranh này đối với bộ đội chủ lực cũng rất khéo léo để tránh mạng lưới tình báo CIA, mật vụ, thám báo... bảo vệ sự an toàn cho bộ đội. Không ít lần ông và đơn vị bắt gặp ánh mắt “làm ngơ” của dân địa phương khi nhìn thấy bộ đội đang âm thầm luồn qua trận địa. Có những người dân có thể không trực tiếp tham gia Cách mạng nhưng cũng nhất quyết không hùa theo giặc, mà còn thầm bảo vệ, tiếp tế cho bộ đội... Bộ đội biết ơn họ lắm!

Giọng kể của ông chợt trầm xuống:

- Có thể tên tuổi những người dân tôi nhớ đến hồi ấy bây giờ không biết họ còn hoặc mất, cũng không biết họ có còn nhớ đến những gì đã làm cho bộ đội cách mạng. Song, trong niềm tin về Đảng, về Cách mạng, tôi luôn nghĩ cuộc chiến tranh cứu nước của dân tộc luôn có bóng dáng họ trong đó, dù một chút góp sức nhỏ nhoi như vài bao thuốc lá, vắt cơm... nhưng đã góp công nuôi dưỡng và đùm bọc cả một Trung đoàn, cả một đại quân đánh giặc, bằng tinh thần hướng về cách mạng vô tư để đất nước có được độc lập, tự do”.

Ghi lại câu chuyện của Thiếu tướng Vũ Văn Thược, chúng ta cảm nhận sâu sắc về thế trận lòng dân trong chiến tranh Nhân dân cứu nước. Chỉ có dân thương, dân nhớ mới có thể giúp bộ đội ta trăm trận trăm thắng, để đất nước “Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn”…   

 

 

 

PHƯƠNG HOA
Lượt xem: 14985
Bản in Quay lại
Tin mới hơn
Tin đã đưa
Bình luận
Ý kiến bạn đọc (0)
imageUser
Thông tin cá nhân
Bạn vui lòng để lại thông tin để gửi bình luận
Đóng
Lưu thông tin