image Khám phá du lịch Gò Vấp
11 di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật xếp hạng cấp Quốc gia và Thành phố của quận Gò Vấp
Thứ năm, Ngày 02/05/2024, 02:43 CH Cỡ chữ Màu chữ image
(WEBGOVAP)- Trải dài cùng lịch sử hình thành và phát triển gần 327 năm của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (1698 – 2024), các thế hệ người Gò Vấp luôn tự hào mảnh đất nơi mình sống được tạo lập sớm nhất hơn bất cứ nơi nào của Thành phố. Và đó cũng chính là một chứng tích điển hình của bề dày lịch sử - văn hóa rất quý báu, khắc đậm trọn vẹn dáng vẻ nghị lực sống hào sảng của Nam Bộ đất Việt, luôn thu hút khách thập phương và các thế hệ Nhân dân Gò Vấp quan tâm tìm hiểu, khám phá, góp sức bảo tồn, vun đắp...

 

Toàn Quận hiện có 11 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã được Trung ương và Thành phố công nhận di tích, trong đó có những công trình tên tuổi hơn 300 năm là chứng tích quá trình hình thành, phát triển của Thành phố và cả Nam Bộ, mang giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, đó là 2 Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia là Đình Thông Tây Hội - Đình cổ nhất Nam Bộ (tại Phường 11) và Chùa Sắc Tứ Trường Thọ (tại Phường 7); 1 Di tích lịch sử cấp Quốc gia là Tịnh xá Ngọc Phương (tại Phường 1); 1 Di tích lịch sử cấp Thành phố là Đình Hanh Thông (tại Phường 7); 7 Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố là Đình An Nhơn (tại Phường 17); Hội quán Quần Tân (tại Phường 7); Chùa An Lạc (tại Phường 4); Miếu Thất Phủ Thiên Hậu (tại Phường 4); Phù Châu Miếu - Miếu Nổi (tại Phường 5), Đình An Hội (tại Phường 8 ) và Miếu Sa Tân (tại Phường 5).

1. ĐÌNH THÔNG TÂY HỘI

 

 

Đình Thông Tây Hội – địa chỉ số 319 đường Thống Nhất, Phường 11. Ngôi đình cổ nhất của vùng đất Gia Định xưa và miệt đất phương Nam còn tồn tại đến nay, ngôi đình được những người di dân Thuận - Quảng (tức là vùng Quảng Bình cho đến Thừa Thiên Huế ngày nay) dựng lên khoảng năm 1698. Ban đầu chỉ dựng bằng tre, vách lá. Đến năm 1883, Đình thần Thông Tây Hội xây dựng theo kiến trúc như hiện nay, là nơi thờ Thành Hoàng, người bảo vệ cư dân khỏi thiên tai, địch họa, tránh thú dữ…, cụ thể ở đây là thờ hai vị thần Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương, hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ (974-1028), còn được dân gian gọi là “Hai vị nhân thần khai hoang”. Theo kiến nhận của cư dân từ xa xưa, dưới sự che chở của hai Vương Thần mà đời đời nhân dân trên vùng đất mới khẩn hoang được sống trong an yên, mùa màng tươi tốt… Ngoài ra, Đình còn thờ 11 vị thần khác, là ngôi đình làng thờ cúng nhiều vị thần theo những nét kiến trúc ban thờ tiêu biểu của Đình làng Nam bộ xưa.

Đình xây dựng trên nền diện tích 761m2, là một quần thể kiến trúc gồm nhiều thành phần khác nhau, được nâng cấp và bổ sung trong nhiều giai đoạn. Đến năm 1883, được trùng tu chính thức là kiểu dáng kiến trúc nghệ thuật như hiện nay, với mặt bằng kiến trúc tạo thành hai trục song song với nhau: Một trục dài (trục chính) gồm Võ ca, Chánh điện; một trục ngắn (trục phụ) là nhà Hội sở. Kiểu mặt bằng kiến trúc này rất phổ biến đối với công trình kiến trúc tôn giáo ở miền Nam thế kỷ XVIII và XIX gồm 12 nếp nhà cổ và 1 nếp nhà mới dùng làm Võ ca, Nhà chầu, Chánh điện và Hội sở…

Toàn bộ ngôi đình lợp ngói âm dương. Bộ vì kèo chịu lực bằng gỗ, nền lót gạch tàu. Trang trí của đình phần đặc sắc nhất tập trung tại Chánh điện. Ở đây các đầu kèo, trính đều được chạm khắc đầu rồng và cành mai. Có 3 bao lam: Bao lam ở giữa chạm theo đề tài Lân - Ly - Quy - Phụng; hai bao lam hai bên chạm theo đề tài Mẫu đơn - Trĩ. Tác phẩm chạm khắc đặc sắc nhất là trang thờ thần được chạm khắc tinh xảo theo đề tài “Lưỡng Long chầu nguyệt” và “Lân - Ly - Quy - Phụng”. Ngoài ra còn có hai trang thờ Tả ban, bức hoành "Chung linh lưu tú", hai cặp câu đối bằng thân cây dừa ở Chánh điện đều là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị.

Trong Di tích đình Thông Tây Hội còn giữ 37 hiện vật quý. Các hiện vật là tác phẩm chạm khắc nghệ thuật như bao lam, hoành phi, câu đối, trang thờ đều giữ được đường nét, màu sắc sơn son thếp vàng của hiện vật cổ, không bị phết lên những lớp son mới như một số ngôi đình khác thường làm. Đề tài chạm khắc trong đình Thông Tây Hội rất phổ biến đối với các công trình tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ. Đình quay về hướng Đông. Cổng đình xây theo kiểu tam quan. Sân Đình rộng, hiện còn có một số cây Sao cổ cao khoảng hơn 10m.

Đình tổ chức cúng Kỳ Yên vào ngày Rằm tháng Tám (âm lịch) hàng năm, được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 2009/1998/QĐ-BVHTT ngày 26 tháng 9 năm 1998.

2. TỊNH XÁ NGỌC PHƯƠNG

 

 

Tịnh xá Ngọc Phương - địa chỉ số 498/1 đường Lê Quang Định - Phường 1. Tịnh xá Ngọc Phương gắn liền với tên tuổi Ni sư Huỳnh Liên, người đứng đầu hệ phái Ni giới Khất sĩ Việt Nam, là trung tâm của Ni giới Khất sĩ Việt Nam, thuộc Hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Năm 1958, Ni sư Huỳnh Liên đã chủ trì xây dựng Tịnh xá Ngọc Phương, lúc đó là một cái am nhỏ hình bát giác. Đến năm 1972, Tịnh xá được xây dựng lại với 3 khu nhà hai tầng. Lầu một khu nhà chính giữa của Tịnh xá là chính điện, nơi bài trí ban thờ Phật Thích Ca, ban thờ Tổ sư Minh Đăng Quang và Ni trưởng Huỳnh Liên. Tầng trệt bên dưới chính điện là giảng đường - nơi trước năm 1975 từng diễn ra nhiều cuộc hội thảo, mít-tinh của các tổ chức, phong trào đấu tranh cách mạng. Năm 1988, Tịnh xá xây thêm bảo tháp Đệ nhất cố Ni trưởng Huỳnh Liên và trùng tu dãy Tăng phòng bên trái sau bảo tháp.

Ni sư Huỳnh Liên (1923 – 1987) tham gia cách mạng năm 1960, từ đây Ni sư đã sử dụng Tịnh xá làm cơ sở cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1960 – 1975) được mệnh danh là “Tổng hành dinh của các cuộc xuống đường”. Tịnh xá là cơ sở bí mật tiếp tế vật dụng, thuốc men, lương thực, nuôi dấu cán bộ của Ban Kinh tài, Ban Văn nghệ Tây Nam Bộ, Ban An ninh liên Quận 4, Mật khu Long An, Chiến khu D… nơi hội họp của Quận ủy liên Quận 4, Ban An ninh liên Quận 4… Tịnh xá còn là trụ sở của Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống, Mặt trận Nhân dân tranh thủ hòa bình, Phong trào Dân tộc tự quyết, Ủy ban Cải thiện chế độ lao tù, Phong trào học sinh, sinh viên... Một số hoạt động gây được tiếng vang lớn như Ni trưởng Huỳnh Liên phối hợp với đồng bào Công giáo tố cáo chính sách thâm độc của Mỹ nhân sự có mặt của Thượng nghị sĩ Mac Govern tại nhà thờ Dòng Chúa cứu thế ở đường Kỳ Đồng. Cuộc tuyệt thực diễn ra trong một tuần lễ trước Dinh Độc Lập; biểu tình ngồi ở ngã Bảy suốt ba ngày hai đêm; tham gia ngày “Ký giả đi ăn mày”…

Những hoạt động tại Tịnh xá đã gây cho chính quyền Sài Gòn nhiều lo sợ trước sự đấu tranh của Ni giới Khất sĩ. Vì vậy, ngày 27.10.1974, địch đã cho cảnh sát giăng dây kẽm gai quanh Tịnh xá, đặt hàng rào sắt trên đường Lê Quang Định để bao vây, phong tỏa Tịnh xá cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30.4.1975, Tịnh xá mới được giải tỏa. Hành động tàn ác ấy của kẻ thù bất chấp cả các cuộc biểu tình đòi giải tỏa Tịnh xá Ngọc Phương của đồng bào và Phật tử diễn ra mạnh mẽ, gây chấn động dư luận trong và ngoài nước thời đó.

Với những giá trị lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường, Tịnh xá Ngọc Phương được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 2754/QĐ/BT ngày 15 tháng 10 năm 1994. Hiện nay, Tịnh xá là trụ sở Trung ương Giáo hội khất sĩ ni giới.

3. CHÙA SẮC TỨ TRƯỜNG THỌ

 

 

Chùa Sắc Tứ Trường Thọ - địa chỉ số 791 Phan Văn trị, Phường 7. Chùa thuộc phái Thiền Lâm Tế Liễu Quán. Trước kia có tên là Vĩnh Trường (tọa lạc tại thôn Hòa Mỹ, tổng Bình Trị, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, thành Gia Định - vùng Đa Kao hiện nay); Tương truyền trong lúc bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh đã chạy vào chùa Vĩnh Trường ẩn nấp. Một cơn mưa ập đến giúp Nguyễn Ánh thoát nạn. Vì vậy vua Minh Mạng đã ban cho chùa tên “ Pháp Vũ” (trận mưa dạo pháp hiển linh) năm Minh Mạng thứ ba (1822). Khoảng năm 1859 chùa Pháp Vũ chuyển đến Gò Vấp do quân Pháp nổ súng chiếm thành Gia Định (thành Phụng), chúng phá các chùa xây dựng phòng tuyến từ Bến Nghé vào Chợ Lớn. Thế kỷ 19, năm 1870 vua Tự Đức mở giới đàn tại triều đình, hòa thượng Hải Phước, hiệu Liễu Kiện, trụ trì chùa Pháp Vũ, được mời làm pháp sư, vua Tự Đức ban cho chùa Pháp Vũ tên mới là Trường Thọ. Đến với chùa Sắc Tứ Trường Thọ, chúng ta sẽ hiểu thêm về sự phát triển của Phật giáo ở Gia Định xưa, về một ngôi chùa đã hai lần được hai vị vua Triều Nguyễn đặt tên và chiêm ngưỡng vẻ độc đáo củng từng pho tượng được tạo từ hơn hai trăm năm trước.

Trong chùa Sắc tứ Trường Thọ hiện còn bảo tồn được nhiều di vật cổ có giá trị, được tạc và đúc từ thế kỷ XVIII như: Hai biển "Sắc tứ" của Vua Gia Long và Vua Tự Đức đã ban cho chùa gồm: Sắc tứ Pháp Vũ (Gia Long - 1802) và Sắc tứ Trường Thọ (Tự Đức - 1870); Tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít (cao 1,8m, không có bệ), Bộ tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quán Thế âm, Đại Thế Chí) bằng gỗ (cao 0,9m, ngang 0,5m) - là 3 pho tượng cổ nhất ở chùa được chạm khắc vào đầu thế kỷ XVIII; Bộ tượng Thập Bát La Hán bằng đất nung phủ sơn (cao 0,62m, đế cao 0,15m, ngang 0,43m); Bộ tượng Thập Điện Diêm Vương bằng gỗ mít (cao 0,67m, ngang 0,33m).Đại hồng chung ở chùa Trường Thọ là một quả chuông quý được đúc vào năm 1808,..,cùng những hiện vật quý khác.

Chùa Sắc Tứ Trường Thọ được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 06/2000/QĐ-BVHTT ngày 13 tháng 4 năm 2000.

4. PHÙ CHÂU MIẾU (MIẾU NỔI)

 

 

 

Phù Châu Miếu – địa chỉ sô 46 Trần Bá Giao, Phường 5. Phù Châu Miếu được tạo dựng từ lúc nào, không có sách sử ghi chép, theo dân gian truyền tụng Miếu được tạo dựng khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Toàn bộ diện tích của miếu đều bao trùm hết trên một cồn đất nhỏ, rộng tới 2.500 m2 , nằm giữa dòng sông Vàm Thuật lá nhánh của sông Sài Gòn. Vì nổi bật giữa sông Vàm Thuật nên bà con còn thuận miệng gọi là Miếu Nổi. Trước năm 1975, Miếu là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của người dân Sài Gòn - Gia Định. Từ năm 1992 đến nay, sau nhiều lần trùng tu, miếu Nổi đã trở thành một ngôi miếu khang trang bằng vật liệu hiện đại, nhưng vẫn theo kết cấu kiến trúc cổ mang đậm nét văn hóa Việt - Hoa. Theo tương truyền vùng đất nơi này đã có từ lâu đời nay, người dân đi ghe thuyền buôn bán trên sông một hôm ghé lại ngủ qua đêm thấy 5 vị Ngũ Thần đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ độ cho buôn may bán đắt. Qua vài ngày sau đoàn ghe buôn ghé lại dựng lên ngôi miếu nhỏ để thờ cúng 5 bà Ngũ Hành phù hộ độ trì cho người đi thuyền bè qua lại trên sông, cùng độ cho người dân địa phương nơi đây.

Mặt tiền Miếu quay về hướng Nam, được cất theo kiểu chữ tam (三), gồm ba toà nhà nối liền nhau bởi sân thiên tĩnh. Mái lợp ngói âm dương tráng men xanh ngọc, gồm hai tầng chồng khít lên nhau.Toàn bộ kiến trúc trong miếu được trang trí bằng nghệ thuật khảm gốm, cẩn sứ hình rồng, phượng… rất tinh xảo, công phu và có tính nghệ thuật cao. Hai bên tường được cẩn sành mô tả các hình tượng tín ngưỡng dân gian. Trên nóc mỗi tòa nhà đều trang trí rồng chầu hạt ngọc, rồng chầu tháp Cửu phẩm, rồng chầu cuốn thư. Trên có bốn đầu đao cong lên gắn hình tượng Long - Ly - Quy - Phụng và các họa tiết hoa lá, các dây leo, lá nho, sông nước... Các bức tường được quét vôi màu hồng đậm, các mí cửa sơn màu đỏ theo lối kiến trúc tâm linh. Trong khuôn viên Miếu có cây si cổ thụ hàng trăm năm.

Theo sử chép, những năm 1935 - 1939, ông Lê Văn Tiều (Mười Tiều) làm Hội trưởng Hội Miếu đã giúp cho Xứ ủy Nam Kỳ, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức các lớp học chính trị, hội nghị đại biểu công nhân lao động, những người buôn bán và nông dân toàn Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn, huấn luyện cán bộ, giao liên… phục vụ cho các phong trào cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đến những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Phù Châu Miếu cũng là nơi chở che cán bộ, bộ đội vượt sông ra vào Chiến khu An Phú Đông, góp phần xây dựng và giữ vững phong trào cách mạng nơi vùng ven ác liệt này.

Hàng năm, Miếu có 1 ngày cúng tế lớn, đó là các ngày vía Ngũ Hành Nương Nương vào Rằm tháng 2 âm lịch. Phù Châu Miếu được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 1761/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014.

5. ĐÌNH AN NHƠN

 

 

 

Đình An Nhơn - địa chỉ số 72/999 Lê Đức Thọ - Phường 6. Đình được tạo lập năm 1802 vào thời kỳ Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vua, được Vua Tự Đức phong sắc năm 1852 mang ý nghĩa "Đại càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Vương". Đình An Nhơn mang kiến trúc ngôi đình làng, xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, được trùng tu vào 3 giai đoạn: 1802, 1852 và đầu thế kỷ 20. Đình có một quần thể kiến trúc gồm nhiều phần khác nhau, được xây dựng trên diện tích 6.200m2.

Đình thờ ông Trần Xuân Hòa - Phó tướng của Nguyễn Tri Phương và Thần Thành hoàng Nam Hải Tứ vị Thánh Vương (đời Nam Tống bị nhà Nguyên soán ngôi). Nguyên là Đình An Nhơn có Nam Hải Tứ vị Tôn Thần mang nguồn gốc sự tích từ miền Trung nước Trung Hoa. Vào đời Nam Tống, quân giặc Nguyên nổi lên cướp ngôi, Tống triều yếu thế, vua tôi tìm nơi đào tẩu. Dương Thái hậu cùng 3 vị công chúa chạy loạn đến biển Nam Hải cùng nhảy xuống biển trầm mình tử tiết. Thi thể 4 vị trôi dạt vào cửa sông Cần Hải, tấp vào Xã Hưng Cần - Huyện Huỳnh Lưu - Tỉnh Nghệ An. Vua Trần Thánh Tôn phái khâm sai cử hành lễ táng trọng thể, đồng bào tín ngưỡng lập đền thờ “Đức Thánh Mẫu”…

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đình An Nhơn hiện vẫn còn sắc phong của triều Nguyễn: “Đại càn Quốc gia Nam Hải, Hành quàng quang, Đại chí đức phổ, Bách hiển Hòa Thượng đẳng thần”. Ngôi đình có kiến trúc Đình thần Nam bộ, được tôn tạo và giữ gìn nguyên vẹn. Lễ Kỳ Yên ngày Rằm tháng Tám (âm lịch) hàng năm. Đình An Nhơn được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 20/2005/QĐ-UB ngày 01 tháng 2 năm 2005.

6. HỘI QUÁN QUẦN TÂN

 

 

 

Hội quán Quần Tân còn được gọi là Chùa Bà - địa chỉ số 2 đường Lý Thường Kiệt - Phường 7. Hội quán Quần Tân là trụ sở của bang người Hẹ ở Gò Vấp - Tỉnh Gia Định xưa. Từ cuối thế kỷ XVII, những di dân từ Trung Hoa sang sinh sống ở Việt Nam đã lập thành các Hội đồng hương và xây dựng Hội quán làm trụ sở của Hội. Nhóm người Hẹ sống ở Gò Vấp đã xây dựng một Hội quán và đặt tên là Quần Tân, nhưng thời điểm xây dựng Hội quán đã không được ghi chép lại, niên đại xưa nhất được ghi nhận là năm Tân Mùi, niên hiệu Đồng Trị thứ mười (tức năm 1871).

Hội quán có thiết kế kiến trúc theo phong cách đền miếu cổ Trung Hoa với cột gỗ, mái ngói, tường gạch, vách mặt tiền và tam cấp xây bằng các phiến đá. Trước kia, mặt bằng tổng thể của Hội quán gồm: sân trước, tiền điện, trung điện, thiên tỉnh, hậu điện, tả vu và hữu vu. Về sau phần thiên tỉnh và hậu điện được xây thêm tầng lầu để làm trường dạy tiếng Hoa, phía trên tả vu và hữu vu cũng được xây dựng thêm phòng học, bên dưới là văn phòng Hội quán và chỗ ở của người trông giữ Hội quán. Hiện nay, chỉ còn tiền điện là nơi thờ Phúc Đức Chính Thần (Thần Đất Đai), chính điện là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Kim Hoa Nương Nương (Bà Chúa Sinh) và Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài). Tuy diện tích chỉ khoảng 400m2 nhưng các điện được bài trí rất trang nghiêm.

Mỗi năm, vào dịp Lễ vía Bà Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch), người Hẹ khắp nơi tề tụ về Hội quán Quần Tân để họp mặt, cúng bái. Không chỉ riêng những ngày cúng tế lớn như: Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Lễ vía Bà, hàng ngày Hội quán cũng thường xuyên mở cửa để thiện nam, tín nữ đến chiêm bái.

Hội quán Quần Tân được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố theo Quyết định số 5512/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2006.

7. CHÙA AN LẠC

 

 

 

Chùa An Lạc - địa chỉ số 73/16 đường Nguyễn Thái Sơn - Phường 4. Chùa được xây dựng cách ngày nay khoảng 200 năm. Chùa mang những nét đặc trưng của kiến trúc Phật giáo ở Nam Bộ thế kỷ XIX. Cổng chùa được xây theo kiểu tam quan. Chùa có hai nếp nhà kiến trúc hình chữ Nhị: Nếp nhà thứ nhất có chiều dài 12,59 mét, rộng 12,9 mét, kiến trúc theo kiểu “tứ tượng” hay “tứ trụ”. Đây là kiểu kiến trúc phổ biến ở các đình, chùa Nam Bộ, thờ các vị Thần và Phật. Trong nhà có 16 cột gỗ, vì kèo, rui mè đều bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, một phần nhà làm chính điện, một phần làm tổ đường.

Phần chính điện có nhiều hiện vật quí, trong đó có 2 bức hoành phi “An Lạc tự” niên đại năm Giáp Tý (1864) và “Đại hùng bảo điện” niên đại năm Ất Sửu (1925). Vị Thần chính được thờ ở chính điện là Thần Tam Bảo. Ngoài ra còn thờ tượng các vị Thần khác như: Phật Thích Ca, Chuẩn Đề, Di Lặc, Quan Thế Âm, Địa Tạng, Giám Trai, Tiêu Diện và Hộ Pháp… Phần tổ đường nằm ở nửa phía sau của nếp nhà thứ nhất. Ban thờ Tổ đường thờ tượng Tổ sư Đạt Ma và chân dung Hòa thượng Chánh Hạnh.

Nếp nhà thứ hai nhỏ hơn nếp nhà thứ nhất được dùng làm trai đường, kiến trúc theo kiểu “tứ tượng”. Cột bằng gỗ được kê trên tấm đá hoa cương khắc hình lăng trụ. Ở đây có bức hoành phi “Chánh pháp tuyên dương” sơn son thiếp vàng, trang trí hoa văn hình lá cách điệu.

Khuôn viên Chùa có 5 ngôi mộ của các vị sư trụ trì và những người có công với Chùa. Trong đó có 2 ngôi mộ lớn là của 2 vị Hòa Thượng trụ trì chùa: Hòa thượng Chánh Hạn và Hòa thượng Phổ Chiếu.

Chùa An Lạc được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 1765/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2009.

8. MIẾU THẤT PHỦ THIÊN HẬU

 

 

Miếu Thất Phủ Thiên Hậu – địa chỉ số 128 Nguyễn Thái Sơn – Phường 7. Sau khi nhà Thanh đánh bại nhà Minh vào thế kỷ XVII, thống trị toàn bộ đất nước Trung Hoa, nhiều người rời bỏ quê hương di cư đến nước khác. Di dân người Hoa đến Việt Nam thường có quê quán ở “bảy phủ” (thất phủ): Triều Châu, Quảng Châu, Phúc Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quỳnh Châu và Huệ Châu. Mỗi nhóm người Hoa đều lập bang hội riêng và xây dựng Hội quán là trụ sở, cũng là nơi thờ phượng các vị thần thánh theo tín ngưỡng của từng bang. Bên cạnh đó họ còn chung góp tài lực xây dựng miếu thờ Thiên Hậu, Quan Đế, Thổ Địa… như Miếu Thất Phủ Quan Vũ, Miếu Thất Phủ Thiên Hậu, Miếu Nhị Phủ (Miếu Ông Bổn)…

Miếu Thất Phủ Thiên Hậu ở Gò Vấp được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Trên vách tường tiền điện Miếu hiện nay vẫn còn hai tấm bia đá, nội dung ghi chép trên bia đá cho biết miếu đã được trùng tu 2 lần (vào năm Mậu Thân 1908 và năm Canh Tuất 1910). Miếu được xây dựng theo kiểu nhà 3 gian, cột kèo gỗ, mái lợp ngói ống. Mặt bằng tổng thể gồm: sân trước, tiền điện và chính điện, mỗi gian thờ điện có lợp ngói riêng. Hàng năm các vị Ban Quản trị tổ chức cúng tế long trọng, đặc biệt ngày vía Bà Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch) đều có đông đảo bá tánh mang lễ vật, hoa quả đến tạ ơn Bà.

Nhìn chung cách bày biện, trang trí ở Miếu Thất Phủ Thiên Hậu tuy đơn giản nhưng vẫn theo phong cách Trung Hoa với cách bài trí đăng đối, hầu hết là màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Điểm đặc biệt là các tượng thờ ở Miếu đều là tượng giấy bồi và sự thờ cúng Y Linh Đại Đế ở đây là nét riêng, chưa thấy ở các đền miếu khác. Hiện nay, các ngôi miếu do người Hoa quê quán ở “bảy phủ” trong địa bàn Thành phố lập nên đều đã mai một, chỉ còn lại miếu Thất Phủ Thiên Hậu, đây là di tích phản ánh một giai đoạn lịch sử của di dân Trung Hoa ở Sài Gòn – Gia Định xưa, điều này rất có ý nghĩa trong việc tìm hiểu lịch sử cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

Miếu Thất Phủ Thiên Hậu được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 3130/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2009.

9. ĐÌNH HANH THÔNG

 

 

Đình Hanh Thông - địa chỉ số 125 đường Nguyễn Thái Sơn – Phường 7. Là ngôi đình khá lâu đời ở Gia Định. Hiện nay chưa có tài liệu cụ thể ghi chép về việc Đình được xây dựng năm nào. Những lưu dân làng Hanh Thông cũng như những lưu dân người Việt ở Nam bộ đến đây sinh cư lập nghiệp, xây dựng đình, miếu, chùa để làm chỗ dựa tinh thần, làm nơi sinh hoạt cộng đồng, thờ phượng tổ tiên và những người có công với Tổ quốc đồng bào, tế bái cầu nguyện cho thỏa lòng tín ngưỡng của những người con xa quê hương. Vì vậy, căn cứ lịch sử lập làng Hanh Thông cho thấy Đình Hanh Thông tạo dựng trước năm 1816.

Đến ngày 29 tháng 11 năm 1853, triều Vua Tự Đức thứ V, Đình Hanh Thông được ban sắc phong. Đình Hanh Thông thờ Thần Thành hoàng, có 2 mái lợp bằng ngói vảy cá, đặc biệt các cột trong Đình rất lớn. Trước năm 1945, Đình Hanh Thông là cơ sở nuôi giấu cán bộ Cách mạng và cơ sở hoạt động của Thanh niên Tiền Phong Xã Hanh Thông cùng bộ đội, lực lượng kháng chiến, du kích, quân dân tự vệ Gò Vấp trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đình còn là cơ sở trú đóng của Tỉnh ủy Gia Định và Ủy ban kháng chiến tỉnh Gia Định (1945 - 1946). Đình có đóng góp rất lớn trong việc chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất cho Chiến khu An Phú Đông. Đây là ngôi Đình lớn nên được bá tánh cúng bái rất nhiều, người dân trong vùng cũng theo đó tranh thủ lui tới để đóng góp, ủng hộ du kích, cán bộ, vì vậy Đình luôn trữ lượng lương thực, thực phẩm dồi dào giúp kháng chiến.

Đình Hanh Thông được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận là Di tích lịch sử theo Quyết định số 1516/QĐ-UBND ngày 28 tháng 3 năm 2014.

10. MIẾU SA TÂN

 

 

 

Miếu Sa Tân - địa chỉ số 46 Trần Bá Giao - Phường 5. Miếu Sa Tân nằm ven bờ sông Vàm Thuật (trên đường trước khi ra Bến đò sang tham quan Phù Châu Miếu). Trải qua nhiều lần sửa chữa, tu bổ nhưng Miếu vẫn lưu giữ nét kiến trúc đình làng truyền thống Nam Bộ và một phần phong cách kiến trúc, trang trí Trung Hoa.

Hiện vẫn chưa xác định được Miếu Sa Tân được xây dựng từ năm nào. Tuy nhiên, theo một số quý cụ cao niên trong vùng cho rằng miếu được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX ven bến đò Bến Cát thuộc Xã Hạnh Thông - Tổng Bình Trị Thượng - Huyện Gò Vấp - Tỉnh Gia Định xưa, với kiến trúc cổ, mang đậm nét tín ngưỡng dân gian, có sự giao thoa giữa tín ngưỡng tâm linh của người Hoa cùng người Việt vùng Nam Bộ xưa. Miếu tọa lạc trên diện tích khoảng 150m2, trong khu dân cư đông đúc. Tuy đã trải qua thời gian dài từ lúc khởi lập, việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích vẫn khá tốt. Ban quản trị Miếu Sa Tân đã lưu giữ được một số hiện vật cổ, chủ yếu là tượng cổ, hoành phi, bao lam, liễng đối... được cho là quý hiếm, trong đó có 2 bức tượng tiêu biểu là tượng của Bà Chúa Xứ và Phật Mẫu Diêu Trì dùng trong việc thờ cúng mang nét truyền thống, theo thông lệ thường niên của Miếu.

Hiện nay, tại Miếu còn lưu truyền một câu chuyện gắn liền với sự ra đời và tín ngưỡng thờ cúng của Miếu, đó là trên dòng sông Bến Cát có một người đàn ông sống bằng nghề chài lưới được dân trong vùng gọi là ông Chài. Vào một ngày, khi ông quăng lưới kéo cá, lưới rất nặng nhưng khi kéo lưới lên thì không có con cá nào, mà trong lưới là một pho tượng bằng gốm, đó là pho tượng Bà Thủy tề. Với lòng thành kính, ông đã lập ngôi miếu nhỏ để thờ phụng. Sau khi ông mất, để tỏ lòng thương mến, quý trọng, tưởng nhớ công ơn của ông, người dân trong vùng đã đặt tên cho Miếu là “Miếu Ông Chài”.

Trải qua thời gian dài, đến năm 1955, Miếu Ông Chài được đổi tên là Miếu Sa Tân (hay còn gọi là Sa Tân Miếu Kỳ Thánh Thủy Long Cung). Cũng theo một số cụ cao niên, tên gọi Miếu Sa Tân phân tích ra: Sa có nghĩa là cát, Tân có nghĩa là mới, thành ra ý nghĩa đây là ngôi miếu mới lập bên bờ sông Bến Cát.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do chiến tranh ác liệt, khu vực dân cư xung quanh ngôi Miếu bị bom đạn tàn phá, người dân quanh vùng đã chạy vào miếu để lánh nạn và được Ban trị sự Miếu giúp đỡ cứu tế an toàn… Năm 1990, kiến trúc miếu tiếp tục được tu bổ, cải tạo đáp ứng nhu cầu tham quan, tâm linh tín ngưỡng của người dân. Ngoài ra, trong khuôn viên miếu Sa Tân còn có một lối đi nội bộ, lối đi này dẫn ra Bến đò kết nối với di tích kiến trúc nghệ thuật Miếu Nổi nằm giữa dòng sông Vàm Thuật. Như vậy, người dân và khách tham quan có thể thuận lợi đến chiêm ngưỡng, cúng bái, tham quan, nghiên cứu tại Miếu Sa Tân rồi sau đó tiếp tục đi đến Miếu Nổi. Miếu Sa Tân được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 4288/QĐ-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2020.

11. ĐÌNH AN HỘI

 

 

 

Đình An Hội - địa chỉ 307/24 đường Nguyễn Văn Khối - Phường 8. Đình được xây dựng năm 1900, trùng tu năm 1998, 2018... Khuôn viên hiện hữu của Đình hiện có diện tích hơn 1.700 m2, cảnh quan rộng và đẹp. Đình còn giữ được kiến trúc cổ của đình làng Nam Bộ với các hạng mục như: cổng Tam quan, chánh điện (thờ Thần Hoàng Bổn cảnh... ), miếu thờ Quan Thánh Quân (bên phải), thờ Bà Chúa Ngọc Nương Nương (bên trái), cùng nhị vị Công tử, 1 Bạch mã và 1 cặp Liễng... Các nếp nhà còn giữ được mái ngói âm dương, cột, kèo bằng gỗ, một số hoành phi, câu đối bằng gỗ... Lễ cúng Kỳ Yên ngày 16 tháng 2 (âm lịch) hàng năm.

Đình còn có câu chuyện lịch sử năm 1968, là nơi họp của Chi bộ Ấp 5 - Xã Thông Tây Hội do đồng chí Nguyễn Văn Kinh (bí danh Năm Kinh) - Quận ủy viên chỉ đạo chuẩn bị tham gia chiến dịch Tổng tấn công Xuân Mậu Thân. Đây cũng là nơi thành lập Chi bộ Xã An Hội, nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng trong kháng chiến giải phóng dân tộc... Tại Đình đã xây dựng 1 Bia tưởng niệm khắc tên 107 Anh hùng - Liệt sĩ của Làng An Hội hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đình An Hội được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 4292/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2020.

Nguồn:
Lượt xem: 2324
Bản in Quay lại
Tin mới hơn
Tin đã đưa
Bình luận
Ý kiến bạn đọc (0)
imageUser
Thông tin cá nhân
Bạn vui lòng để lại thông tin để gửi bình luận
Đóng
Lưu thông tin